Một số nét khái quát về dân tộc Thái Quỳ Châu Nghệ An – Vi Ngọc Chân

Xin giới thiệu với quý độc giả bài viết của nhà nghiên cứu Vi Ngọc Chân trong sách Văn hóa và lịch sử người Thái ở Viêt Nam – Đại học Quốc gia Hà Nội – 1998.

Lễ hội Hang Bua tại Quỳ Châu. Nguồn: HoangMaiOnline

Cùng chung nguồn gốc của người Thái Việt Nam và cộng đồng các dân tộc Việt Nam, lịch sử của người Thái Quỳ Châu gắn liền với lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước, người Thái Quỳ Châu, Nghệ An đã góp một phần nho nhỏ. Ngay từ buổi đầu của lịch sử hình thành các tộc người, mảnh đất Quỳ Châu đã có lớp người sống trong hang đá. Lớp người này bổ nhát rìu đầu tiên vào miền núi rừng còn hoang vắng này, phải chăng, đây là lớp người thuộc tổ tiên người Thái Do (Táy Do) cổ. Qua các di vật tìm được ở Thẳm Ồm (Hang Lớn) nằm ở xã Châu Thuận, huyện Quỳ Châu thuộc hữu ngạn sông Hiếu. Các nhà khảo cổ học Việt Nam và nước ngoài (Kăng Ke người Đức) cho rằng người nguyên thủy ở Thăm Ồm, Quỳ Chây đã sông cách chúng ta khoảng 20 vạn năm vào giai đoạn tiếng hóa của người vượn đang chuyển hóa thành người vượn hiện đại(1). Điều đó chứng tỏ rằng những năm trước thiên niên kỷ thứ nhất, vùng này đã có một bộ phận dân cư ở trong các lều, khai phá các thung lũng ven sông làm ruộng, săn bắn và hái lượm, mở đầu cho công cuộc chinh phục và cải tạo tự nhiên, đặt nền móng cho nền văn minh lúa nước.
Xin nói thêm về Thái Do, ở Quỳ Châu tự chia dân tộc Thái thành hai nhánh. Thứ nhất gọi là Thái Do (Táy Do). Thứ hai gọi là Thái Thanh (Táy Thanh). Ngay từ buổi đầu canh tác lúa nước tổ tiên người Thái đã biết dùng nứa ghép thành “cọn nước”(2) và lợi dụng sức nước để cọn nước quay mái nước từ dòng sông sâu lên tưới cho đồng ruộng. Cho đến ngày nay vẫn được sử dụng ở khắp các vùng miền núi Nghệ An và cả nước.

Cùng với sự cộng cư xen kẽ của các tộc người Đông Nam Á, truyền thuyết dân gian “Mạc nắm Púng” (Truyện quả bầu) không những được lưu truyền ở người thái Quỳ Châu mà cả người Thái Việt Nam, người Lào, Thái Lan (trong ngôn ngữ Thái Tày) truyền thuyết kể rằng: “ỷ khắc mới đẻ ra đất; ỷ khi mới đẻ ra ông trời; miếng đất bằng lá đa; ông trời bằng vỏ ốc, thì Pù Nhơ nhà Nhơ (ông cố, bà cố) sinh ra một quả bầu, trong quả chứa nhiều hạt hóa thành người rồi những người đó từ quả bầu mẹ chui ra thành các dân tộc có tiếng nói khác nhau, nhưng cùng chung tiếng cười và tiếng khóc họ cùng nhau sinh sống ở vùng Đông Nam Á này (3).

Một mặt nữa, qua tham khảo của các văn tự cuốn: “Lái Lống mướng” của người Thái có nhận định: vào giai đoạn thiên di của người Thái (khoảng thế kỷ V đến thế kỷ VII sau công lịch) trước sự tấn công để mở mang bờ cõi đất nước của các triều địa phong kiến phương Bắc đã làm cho ngành Thái bị xáo trộn. Nhóm Thái từ miền Xíp Xong Păn Na(4) thiên di theo các con sông lớn Nặm Khoỏng, Nặm Tao, Nặm Te (sông Mê Công, sông Hồng, sông Đà) rồi tràn vào công Mã, sông Hiếu, sông Lam vùng miền Tây Thanh Hóa – Nghệ An.

Nhóm này thiên di vào vùng tây Nghệ An, bắt gặp dân cư cùng chung tiếng nói, từ đó họ sớm hòa hợp cùng nhau, xây bản lập mường. Xin nói thêm người Thái du cư vào vùng Nghệ An nói chung vào thung lũng Quỳ Châu nói riêng, chủ yếu từ những mường đất tổ Mường Thanh (Điện Biên), Mường Muổi, Mường Khăng,… Từ đó họ tự xưng là người Mường Tổ, như Tày Do (Tày Mường), Tày Thanh, Tày Mười, Tày Khăng…

Trong quá trình dựng bản lập mường của người Thái Quỳ Châu ngay từ thuở xa xưa, đơn vị hành chính đã được xác lập thành các mường lớn, đứng đầu mường lớn là các dòng họ quý tộc (châu Mường). Trong các mường lớn được chia thành mường nhỏ do các chúa đất (châu đín) cai quản. Tên các địa danh “mường” vống tồn tại cho đến ngày nay. Trước tháng 8 năm 1945 những châu mường chủ yếu là dòng họ Lo Căm (Tức Lò Vàng), còn các dòng họ: Hủn, Lương, Hủn Vi chỉ được quyền cai quản các mường nhỏ, dưới sự chỉ đạo của các châu mường lớn.

Đi đôi với công cuộc lập bản lập mường việc canh tác lúa nước cũng được chú ý. Nhưng có lẽ thời kỳ trình độ nhận thức về thiên nhiên còn ít, nên người Thái ở Quỳ Châu nói riêng, nhóm Thái nói chung quan niệm rằng: Vạn vật đềi có công thần, chúa trời trông giữ. Muốn cầu mong cho bản mường bình yên, đời sông con người được thanh bình và no ấm; các châu mường đã cùng dân lập các nhà thời chín gian ở Pù Quái (núi trâu) nay thuộc xã Châu Kim, huyện Quế Phong để thờ cúng chúa trời, cầu mong chúa phù hộ cho trần gian luôn luôn gặp nhiều điều may mắn. Trong sản xuất: người Thái vừa làm ruộng vừa làm rẫy. Người Thái thích ăn xôi, nên chủ yếu trồng lúa nếp còn lúa tẻ trồng rất ít vì chỉ yếu phục vụ cho việc hồ vải. Cứ đến mùa cày cấy, trồn tỉa và lúa đã xanh tốt, ở các mường nhỏ tổ chức lễ cúng thần thổ địa (xơ hà ná) cầu mong cho thần ruộng phù hộ ruộng, nương xanh tươi và cho vụ gặt hái bội thu.

Một hình ảnh trong lễ hội đền chín gian Quỳ Phong.
Nguồn: baomoi.com

Song song cùng việc canh tác lúa nước nghề trông bông dệt vải và dệt thổ cẩm xuất hiện và phát triển theo yêu cầu của lịch sử. Đến nay những thổ cẩm của ngưởi Thái Quỳ Châu đang từng bước đi lên, không những phục vụ cho nhu cầu tốt thiểu về mặc mà du khác trong và ngoài nước vẫn ưa chuộng. Nếu có đầu tư thích đáng chắn là nghề dệt thổ cẩm này sẽ là một mặt hàng trao đổi đáng quý của đồng bào Quỳ Châu.

Về cấu trúc nhà ở. Nhìn chung nhà người Thái vốn là nhà sàn, lợp bằng tranh cọ. Nhà làm bằng cột gỗ theo hai hình thức: Thứ nhất là chôn cột xuống đất; Thứ hai chân cột kê tảng. Có hai mái, nếu chúng ta nhìn phía trước nhà thì mái nhà là cơ cấu theo hình chóp nón, nóc mái nhà được trang trí bằng hình khâu cút. Qua nhìn các khâu cút thì khâu cút phía trước nhà được trang trí công phu hơn khâu cút phía sau. Nếu nhìn tổng thể phía trước nhà là hình cây nấm hương. Trong nhà được bố trí gian khách, buồng ngủ, bếp nấu liên hoàn trong nhà. Cấu trúc nhà sàn thường từ 3 đến 5 gian (ít khi làm chẵn).

(Sơ đồ – lược bỏ)

Nhà Tri châu Cầm Văn Oai, Mường Mụa (Mai Sơn, Sơn La) đầu thế kỷ XX
Nguồn: facebook.com/HistorySonLa

Cấu trúc thành viên trong gia đình: cũng như các tộc người khã sông trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Người Thái hôn nhân một vợ, một chồng. Vợ luôn cư trú bên nhà chồng, vai trò con trai được trú trọng. Tục này tương đồng với câu ngạn ngữ tiếng Việt: “Thuyền theo lái, gái theo chồng”. Cùng chung sống trong một gia đình. Theo quan niệm của người Thái: Con trai đầu lòng có trách nhiệm chung sống cùng bố mẹ, còn một số ít nhà có đến 5 thế hệ cùng sinh sống. Qua tìm hiểu 4 gia đình có 5 thế hệ thì cả bốn trường hợp này ba thế hệ đều là ba thế hệ đều là con trai một, nên các thế hệ chỉ cách nhau trên dưới 20 năm. Tôi xin nêu một ví dụ: Nhà ông Băng có 5 đời cùng sinh sông (năm 1984).

Bố (88 tuổi) – con (69 tuổi) – cháu (48 tuổi) – chắt (26 tuổi) – chít (5 tuổi).

Dựa trên cấu trúc thành viên trong gia đình có nhiều thế hệ cùng sinh sống, đòi hỏi phải có lượng vật chất tối thiểu để đáp ứng nhu cầu cho mọi thành viên trong gia đình. Ngoài canh tác cây lúa trên ruộng nương. Người Thái Quỳ Châu còn chăn nuôi gia súc: Trâu, bò, ngựa, dê, lợn, chó và gia cầm để hỗ trợ cho thu nhập, cải thiện đời sống mọi thành viên trong gia đình. Một phần đề phục vụ cho việc cúng lễ. Đáng chú ý chăn nuôi đại gia súc điợc người dân trú trọng (trâu bò) vì trâu, bò được dùng để cày kéo trong canh tác lúa nước, nên được coi là tài sản quý hàng đầu (con trâu là đầu cơ nghiệp). Ngoài ra, trâu, bò còn làm vật cúng lễ thần linh (chúa trời) và là vật cúng hồn con người khi quá cố. Từ đó người Thái Quỳ Châu đã tổng kết thành câu ngạn ngữ: “Không nhớ hánh quái – Tái kín ngái quái chẳng tạo mứn phá”. Phỏng dịch: “Sống nhờ vào sức trâu, chết rồi làm thịt trâu rồi về chầu trời”.

Xét về quan niệm thì người Thái Quỳ Châu không có quan niệm tôn giáo nào. Nhưng họ cho rằng: trong tâm linh con người chứa đựng biết bao hồn vía và hồn vía đó luôn phù hộ cho sự sống con người. Khi thể xác con người ốm yếu phải cần khấn, cúng bái để cầu mong vía không rời xa thể xác. Đó là cúng lễ buộc chỉ cổ tay (ết vắt coi xái hén) để thắt chặt linh hồn con người. Khi con người mới lọt lòng mẹ chào đời, ba ngày sau cha mẹ tổ chức cúng lễ buộc chỉ cổ tay, cầu mong cho đứa bé khỏe mạnh, chóng lớn. Một điều lý thú trong tục buộc chỉ cổ tay(5) là: Khi anh em ở xa hoặc bạn bè thân thích nhất đến thăm nhau, thì nhà anh em hay bạn bè (là chủ thể) tổ chức làm lễ buộc chỉ cổ tay (lễ này mang ý nghĩa khác) nghĩa là không tính tín ngưỡng nào, mà có thể hiện một ý niệm sâu sắc là thắt chặt tình cảm, tình cảm vững bền như sợi tơ. Xin phân tích thêm về sợi chỉ: chắc là ngày xưa khi chưa có sợi chỉ hóa học thì loại chỉ bề nhất chỉ có sợi tằm. Nên người Thái ví rằng “sự ràng buộc giữa linh hồn với thể xác con người và sự thắt chặt tình cảm của anh em, bè bạn phải bền vững như sợ chỉ tơ tằm”.

Làng nghề thổ cẩm Châu Tiến
Nguồn: http://langmoi.vn/lam-giau-tu-det-tho-cam/

Chung quy lại với những ý niệm và phong tục, tập quán sản xuất của đồng bào Thái Quỳ Châu đến nay còn mang đậm tính chuyên canh và quảng canh rõ rệt, trong thực tại địa hình Quỳ Châu rất phức tạp, có những dãy núi ngăn cách các thung lũng nhỏ ven sông ven suối thành các vùng có khi hậu khác nhau. Từ đó khó khăn trong việc đi lại và giao lưu hàng hóa giữa các vùng, nên đời sống dưới mức ngheo khổ, phục thuộc vào tự nhiên và còn mang đậm nếp sống săn bắn hái lượm. Trong vài thập kỷ này, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đời sống của dân cư Thái ở Quỳ Châu có những bước cải thiện rõ rệt.

Trong cuộc sống hằng ngày của con người có lúc khỏe, ốm. Ở đây tôi muốn nói rằng khi con người ốm yếu thì người Thái Quỳ Châu quan niệm rằng: “Hặc máy kín, việc phí ke” có nghĩa là vừa uống thuốc vừa cún ma để ma phù hộ. Từ đó trong lòng xã hội người Thái sinh ra hai ý niệm, một bên là ý niệm về thuốc, một bên là ý niệm về ma quỷ hồn vía.

Ý niệm thứ hai: người thầy cúng (ông mo) xin chi tiết thêm ông mo ở đây có 2 phái mo: phái  mo một mo lẻ (mó […(8)])(6); phái mo chẵn (mo một) (7). Nhưng với ý niệm trên đây là hai ý niệm khác nhau nhưng cùng một ý cầu mong cho cuộc sống con người chóng khỏi bệnh. Xét về tính nhân văn của hai ý niệm trên thì mục đích của nó cũng nhằm đảm bảo cho cuộc sống con người. Ví dụ: Xáy hạc máy (thầy thuốc) mong sao cho những bài thuốc của mình để cứu cho người khỏi bệnh […(8)]. Bên ông mo một (thầy cúng) cũng mong sao hồn vía con người luôn luôn ở cùng với người và cầu mong tổ tiên, trời đất phù hộ con người được sống bình yên và có cuộc sống ấm no hạnh phúc.

Nguyên tác: Vi Ngọc Chân

Ghi chú:

  1. Lịch sử Nghệ Tĩnh tập I, NXB Nghệ Tĩnh 1984 tr. 41.
  2. Truyện (Tiếu lớn) còn lưu ở đông bào Thái Quỳ Châu, Nghệ An.
  3. Truyện dân gian Thái, bản chép tay chữ Thái của ông Hà Văn Tiên, Châu Hoàn, Quỳ Châu, Nghệ An.
  4. Thuộc tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.
  5. Tục buộc cổ tay: tục này không chỉ phổ biến ở đồng báo Thái Quỳ Châu, mà phổ biến ở cả Lào và Thái Lan.
  6. Hình thức lễ cúng chỉ có một người cúng khấn.
  7. Hình thức lễ cúng phải có 2 người, một người đệm nhạc bằng sáo, còn thầy mo ngồi cúng khấn.
  8. Hai từ này sách đã bị mờ. Chúng tôi sẽ tham khảo thêm các nhà nghiên cứu để cập nhật sau.

Comments

comments

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *