Quam Tô Mương – Chương I – Chuyện trời đất, loài người – Bản dịch

CHUYỆN TRỜI ĐẤT, LOÀI NGƯỜI

Thuở ấy, trời sinh ra mới nhú lên bằng hoa nấm, đất mới dựng chụm lại thành ba cột(1). Từ miền bảy đồi, chín ngọn nước(2), miền Mường Ôm, Mường Ai, Mường Lò ngoài vòm trời, nước chảy tụ vào miền sông Đà, sông Thao nước đỏ, gặp nhau.

Then lớn cử bảy chúa đều là người dưới gầm trời đem con cháu gồm có mười giống Xá, có năm giống Thái, xuống <<ăn>> đất trần gian để dựng bản lập mường. Nhưng loài người lúc đó còn dại lắm. Có bản không biết lập mường, có mường không có tạo (3). Họ từng bầy, từng lũ lang thang ven rừng khe suối. Nhà cửa chưa biết làm; đến tối họ gặp đâu ngủ đấy, nay gốc cây mai hang đá. Họ kiếm được gì ăn nấy. Ăn không cần chọc tiết, ăn thịt tươi đỏ loét không biết tanh hôi. Thế mà người họ vẫn khỏe, thăn rắn như đồng, như sắt, chân chạy nhanh thì bắt được hươu, tay vơ vội được chim được sóc. Họ không có quần áo che thân, trần chuồng như bầy thú. Họ không biết nên vợ, nên chồng, ăn chung ở đụng. Con đẻ ra không biết bố, người lớn lên không biết dòng họ. Thật là <<hỗn độn người không cùng giống, vạn người không cùng bản>>, làm sao họ dựng nên trần gian được. Then đành phải gọi hết về trời.

*

*                  *

Then lại cho lớn người khác xuống. Thuở đó, người già, người lột, rắn già, rắn chết. Thế mà vẫn nhiều như lá cây trong rừng. Mọi vật đều biết nói. Con đỉa còn biết kêu; con vắt còn biết nghe ngóng. Rái cá biết trở lời; nai, hoẵng biết kêu than; cú, vọ, chim ưng biết kể chuyện; lợn, chó biết kêu xin. Cỏ cây biết tiếng người. Người muốn giết, vật van lạy; người muốn chặt, cây kêu xin. Cây chặt ra máu chảy như máu người. Riêng cây chuối không biết nói, người mới dùng chúng làm nhà ở.

Thuở đó trời còn thấp le te, người đứng với tay cũng tới. Bò đi còn vướng cổ; lợn đi còn vướng gông; giã gạo sợ vướng chầy; phơi lúa e vướng giát; xe chỉ lo vướng guồng. Trời đất đi lại với nhau dễ dàng.

Thuở đó, hạt lúa to bằng quả bí xanh. Bẹ rau phải lấy rìu chặt. Thân mía lấy rìu đẽo. Lá cây bông bằng lá dong. Nhúm bông se sợi đủ mắc khung cửi dệt. Người làm ít, được ăn nhiều. Then lại cho người biết đan chài có chân sắt, có chân đồng xuống. Từ đó, thức ăn kiếm càng dễ dàng. Chài quăng xuống nước được cá chiên cá, cá chắm; quăng lên cạn được ăn nai, ăn hoẵng; quăng vào bản úp được cả hồn người.

Người thuở đó ăn gỏi, ăn lạp. Lại thêm, lúa trong bịch hết, lúa khắc về nhà; cá hết, cá khắc đến. Muống gieo lúa, lúa tự khắc bay bào ruộng mạ; muốn được quả, quả tự khắc hiện trên cành. Một lần, mẹ con nhà góa bụa, tính hay cáu gắt, đi nương gặp khóm lúa cao làm vướng tai, vướng cổ, bèn cầm dao chém hạt lúa. Lùa rơi xuống nằm lẫn trong đất. Lúa biến thành như loài cỏ. Từ đó, ai lấy lúa về gieo mới có ăn. Lúa cũng lười không chịu đi vào bịch. Lúa trên nương, đòi người đến ngắt; lúa dưới ruộng, bắt người đến hái.

Thuở đó, gà không làm ổ, khi đẻ không nhớ chuồng. Gà tranh nhau chỗ ở, giành nhau trứng. Người ta cũng quên chỗ trú; dựng nhà, quên mất nhà. Người như gà ở lẫn lộn, tranh giành nhau. Việc đó không hợp ý Then. Da Nang Then (BTV – ꪥ꪿ꪱ ꪙꪱꪉ ꪵꪖꪙ) – tức vợ Then – trên trời giận giữ sai cắt dây khau cút làm đứt đường lên xuống dưới trần gian. Trời dâng lên cao; cao mãi chín tầng mây cách biệt hẳn mặt đất, cao bằng chín đời cong, hai đời tạo. Trời đất xa nhau bằng ba đống tơ, to bằng ba con trâu, xa bằng bảy đống mây, to bằng bảy con voi; xa bằng ba trăm ba mươi đường tên đi, năm trăm năm mươi đường đạn réo.

Thuở đó, người già người lột nên sống lâu, sống lâu lại không được sinh nở; sống lâu, lâu mãi phát chán vì không được về trời. Người mới bảo nhau làm trái ý Then. Họ đi lùng giết ếch nhái, giết rắn, lấp hang cóc. Các con vật hãi hùng kêu thấu điếc tai Then. Then nổi giận. Cái từng bằng ba con trâu; cái giận bằng bảy con voi. Then bèn mở bảy đường nắng, đóng chín đường mưa. Dưới trần gian hạn hán kéo dài. Nắng giữ, đất cằn, cỏ héo. Trâu bò chết đói cỏ. Lúa trên nương, trên rẫy chết khô. Ốc dưới đông sâu chết cạn. Men rượu trên gác bếp nhuốm khói. Củ mài mục hấp hơi dưới hố. Người đi buôn chết khát giữa đường. Người già muốn có cá ăn không có. Người làm ruộng muốn ăn con niển con niếng cũng không còn. Loài người dần dần chết hết. Kẻ chết dưới gốc khem, người nằm bên gốc củ. Duy sót lại Lạng Ải và Lạng Nhì. Họ phải đưa nhau lên Thanh Nưa làm chặng, làm li bắt cá. Ba ngày họ mong cá chiên qua, cá không qua. Sáu ngày, họ mong cá chắm xuống, cá không xuống. Tức quả, họ lấy gỗ khẻ về làm li, gỗ mi về làm phai. Họ giết rắn rồi giả làm ma; liệng nhái như liệng người chết; lấy ốc về làm rau; đem con cú về làm chủ hồn; con ruồi làm chủ áo; đem con kỳ nhông về làm thay ông nghe rót rượu; cúng rượu lên trời cúng bằng chum con. Quản nhiên, Then giận bằng ba con trâu, bằng bảy con voi; sai mở chín đường mưa, đóng bảy đường nắng. Sấm vang chớp lóe, mây kéo đen trời. Khắp trần gian tối mịt như ngập trong chậu nước chàm. Hạt mưa to bằng quả muổi. Khắp sông suối đều tràn; mọi hồ, ao, khe ruộng đều ngập. Nước dâng tới cửa trời. Ba tháng vẫn còn mưa; sáu tháng nước mới cạn. Loài người không còn ai, cây cỏ đều chết sạch. Mùi hôi thối dứa lên tận thiên đình. Trời không chịu nổi lại mở bảy đường nắng, rút chín đường mưa. Trời nắng như thiêu. Người, vật, cây cỏ chết gặp nắng mủn ra, tan thành cát bụi. Đất bị hun nóng chín thành từng mảnh cháy đỏ; đá biến thành vôi. Người vật lại xong một kiếp.

*

*                  *

Trời lại sinh ra một kiếp người xuống trần gian nối dõi. Lúc đó trái đất không còn khô cằn. Cây cỏ còn vàng héo. Trâu, bò, voi, ngựa thiếu cỏ ăn. Mạ dưới ruộng héo khô; lúa trên nương cằn cỗi. Rau trong vườn không nảy nhánh. Cây trên rừng không ra hoa, kết quả. Đã thế, người ta be bờ không thành vũng; khơi lòng suối, nước không chảy.

Họa mi vắng tiếng hót; gà rừng vắng tiếng gáy; chim cu không tiếng gù; vượn trên non không tiếng hú; loài cáo không chạy chơi; chim công ít nhảy múa; dơi nằm lỳ trong hốc đá. Loài người đâm chán nản. Kiếp người thật ngắn ngủi. Họ không muốn sống lâu dưới trần gian, kêu van Then về trầu trời.

*

*                  *

Then buồn bực lắm, mới đến nhà Me Bảu sai đúc cho trần gian một lớp người khác. Lần này, loài người to bằng ba quả núi, tai bằng chiếc quạt lúa; má phính tựa chái nhà; đùi to năm người ôm không xuể. Đó là con cháu Ải Lợk Cậc. Lớp người này xuống trần gian đem theo bò chín ngàn bướu, trâu chín ngàn vai, cày, bừa to khỏe, sức voi mới kéo xuể. Họ xuống trần gian cày, cấy, làm ăn.  Họ cày nơi đất rộng, phá rừng thành ruộng nước. Họ dùng mai trạm trổ, cán bịt bạc ngấn để đào mương, đắp phai. Họ cày đất đen lên, lộn đất đỏ xuống. Đất màu trùm lên đất xấu. Đường cày đủ cho ngựa phi. Ruộng cấy đủ cho hai chục trâu chạy. Trời làm mưa thuận gió hòa. Trâu, bò có cỏ ăn. Voi, ngựa không lo đói. Đời ấy, trồng lúa ruộng, lúa tốt vàng đầy đồng. Đời ấy, trồng lúa nương, lúa nương xanh đầy rẫy. Trồng rau, rau mọc tầu cao. Trồng rau thơm, mau đẻ nhánh. Be nước, nước thành vũng. Khơi suối, nước tràn đầy. Lợn, chó không bị chết. Gà, vịt không hề toi. Muốn gì làm được nấy. Mường bản đầy tiếng ca. Qua hai ngàn mùa lúa chín; qua hai ngàn đời cá ruộng, lớp người này lại đưa nhau về trầu trời; bỏ lại trần gian vắng tanh. Lúa mọc không có người ăn, đất bằng không có người qua lại. Đó là lúc Ải Lợk Cậc bị bẻ gãy giò chết.

*

*                  *

Tiếp đó, Then lại phải cho lớp người khác xuống xếp đặt mọi việc dưới trần gian. Then cho tạo Tum Hoàng về làm chủ vùng ngọn sông Nặm Lài, Ao Xe, Nặm Tè, Nặm Na, Nặm Tao. Từ đó, tạo Tum Hoàng, rể Then, mới đưa hai anh em Tạo Xuông, Tạo Ngần xuống ăn Mường Ôm, Mường Ai ngoài vòm trời. Hai tạo được Then cho tám quả bầu và tám chiếc cột đồng để chống trời. Then giao các thứ đó cho ba trăm ba mươi họ Xá, năm trăm năm mươi họ Thái đưa xuống mặt đất. Then lại cho đặt trong quả bầu đủ thứ: đủ ba trăm ba mươi giống lúa, ba trăm ba mươi giống cá, có cả sổ cúng, sổ bói, sổ xem ngày tháng. Then còn dặn khi người trời sinh nở phải treo nhau ra ngoài cho Then biết.

Cha con tạo đến cánh đồng Xe gặp đá nhai lại. Đá nhai kêu đốm đốp, đá nhai kêu lộp cộm. Ai cũng sợ, cũng giun. Hai tạo cử bà một, ông mo, ông chang đặt lễ cúng. Cúng cả trâu, cả lợn, cả dê. Cúng không thiếu thứ gì. Chủ đá vẫn không ưng. Hai tạo lại sai bà một, ông mo, ông chang, dàn trai tráng ném ba trăm ba mươi giống bưởi, ba trăm ba mươi giống bòng vào mồm đá nhai lại. Đá bị ghê răng, lạnh gáy ngừng nhai. Hai tạo sai bò xuống trước. Bò vừa lùi vừa kêu ăm bò. Vì vậy sừng nó mới cụp về phía trước. Hai tạo lại sai trâu xuống. Trâu sợ, trâu kêu á ngạ. Vì thế sừng trâu mới ngả về phía sau. Tiếp tục cho ngựa xuống. Ngựa sợ, bỏ sừng lại. Nay ngựa không còn sừng. Nai xuống tiếp theo nhặt được sừng của ngựa. Nai từ đó có sừng. Hai tạo lại đủ gặp chủ khoét lỗ trời nhờ khoét lỗ trời làm đường xuống trần gian. Tạo mới xuống tới Mường Chuông Cang, rồi đến Mường Ôm, Mường Ai ngoài vòm trời. Mườn Ôm, Mường Ai sẵn nguồn trâu; Mường Ai sẵn nguồn thóc. Nhưng ở đó, người vật chỉ ăn hơi, ăn hương, ăn hoa; chỉ ngửi mùi cơm chín. Mường Ôm, Mườn Ai không ở được.

Hai tạo mới cho xuống Mường Bó Té sáu quả bầu và sáu cột đồng chống trời. Tạo cho đất Kinh, đắt Mọi, đất Lào, đất Dôn (?), Mường Tôi (?), Mườn Tao (?) hai quả bầu và hai trụ đồng.

Tạo Xuông, Tạo Ngần xuống dựng Mường Lò Luông. Cùng theo, có các họ Lò, Lường, Quàng, Tòng, Lèo. Những họ này tôn họ Lò làm chủ. Lúc đó, đất Mường Lò đã có người Mọi, người Mang cư trú. Xây dựng xong Mường Lò, Tạo Ngần về Mường Bỏ Té. Còn Tạo Xuông lấu vợ ở đó sinh con là Tạo Lò. Tạo cho Khun Lường làm mo, Tạo Lò làm chúa. Về sau không sống được ở đó, Tạo xuống mới trở về Mường Ôm, Mường Ai quê cũ./.

Chú thích: 

Bài viết này trích dẫn từ Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái (sau đây gọi là Tư liệu) do nhà xuất bản Khoa học và xã hội xuất bản năm 1977, tại trang 49 đến trang 55.

(1) Chương này mỗi quyển Quam Tô Mương viết khác nhau. Ban biên tập Tư liệu tham khảo các truyện kể truyền miệng hệ thống lại cho đầy đủ và sắp xếp lại không dựa vào bản nhất định nào.

(2) Đầu đề của chương này “CHUYỆN TRỜI ĐẤT, LOÀI NGƯỜI” được ban biên tập tài liệu theo vào cho rõ.

(3) Có bản ghi là Làm phai không có mương, lập mường không có tạo.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *