Xếp đặt bản mường, quyền lợi cho các chức dịch ở Mường Muổi| Tục lệ người Thái Đen ở Thuận Châu – Phần 1

Chia sẻ mạng xã hội!

Thuận Châu – ꪹꪣꪉ ꪢ꫁ꪺꪥ

Lời mở đầu

Thuở xưa, người Thái Đen từ đất Hán đến làm ăn sinh sống ở Mường Lò. Về sau, ở đấy, con cháu sinh nòi nảy nở ra đông đúc không có chỗ ở. Pú chảu Lạng Chượng, họ Lò Căm, mới tụ tập đoàn dân của 12 họ là Lò Ngân, Lò Nọi, Lường, Hà, Quàng, Tòng, Lèo, Vi, Lù, La, Mè (1) kéo nhau lên đất Thái ngày nay chia nhau sinh sống ở đó.  Pú chảu Lạng Chượng đi ăn đất Mường Theng. Từ đời pú chảu Lạng Chượng đến đời pú chảu Ngu Háu Lò Lẹt được 12 đời người (2). Pú chảu Ngu Háu mới về ăn đất Mường Muổi. Đất Mường Muổi được coi là gốc đất Thái Đen, gọi là Thuận Châu, thuộc phủ Gia Hưng. Người Lào gọi Mường Muổi là Mường Pha hay Chiềng Pha. Thủ phủ Mường Muổi đóng ở Chiềng Đi. Tất cả các dòng họ dân từ trước đến nay vẫn tôn họ Lò Căm là gốc, được làm quan chảu án nha. Tính từ đời pú chảu Lạng Chượng cho đến nay đã được 34 (3) đời người. Các quan án nha cũng có lúc được làm chức quan chi phủ, tuyên úy, đô úy, tư mã, thiếu bảo và làm quan châu liên tiếp ở đất này. Quan châu án nha đóng ở chính giữa Chiềng Đi định việc xây dựng bản mường theo điều khoản sau đây:

Xem thêm: Một số chức dịch trong xã hội Thái xưa.

1. Khoản thứ nhất: Xếp đặt bản mường.

Về việc sắp đặt (pú panh – ꪜꪴ꪿ ꪵꪜꪉ) mường, bản, xổng, ngũ, lộng, quén và việc giành cho các chức dịch (bớt cam – ꪹꪚꪷꪒ ꪀꪱꪣ) phân quền lợi được hưởng quy định như sau:

Châu Mường Muổi chia làm 5 mường:
1. Mường Muổi gọi là xã Xuân Mai
2. Mườn Lầm gọi là xã Nam Tinh (Nam Trịnh)
3. Mường Sại gọi là xã Khinh Khoái.
4. Mường Piềng gọi là xã Thanh Bình.
5. Chiềng Pấc gọi là xã Chinh Bắc (Trịnh Bắc). (1)
Mỗi mường lại chia thành nhiều thôn, nhiều giáp, nhiều bản. Giáp nào ở xa mường thì gọi là lộng có tạo lộng trông coi. Ở mường, ở bản có kỳ mục trông coi. Các do kỳ mục quan bản ăn đem chia thành bốn phần bằng nhau (2) gọi là xổng. Mỗi mường có 4 xổng.

1.1 Bộ máy cai trị cấp châu

Án nha là chủ (ꪹꪥꪸꪒ ꪶꪀ꪿ꪀ – dệt cốc) có thư lại, thông lại ở ngay trong nhà quan. Mỗi mường có hai phìa: phìa lý, phìa phó trông nom dân mường. Có 8 ông kỳ mục từ chức xen hay pằn cho đến chức ông chá hươn; có ông mo, ông nghe, ông chang giúp việc.
Phần lợi quy định cho án nha, phìa và các chức dịch như sau:

  1. Án nha (ꪮ꪿ꪱꪙ ꪑ꪿ꪱ) ăn 10 mẫu nằm trong bản Chiềng Đi (trung tâm – AD) và lấy khẩu chạn (ꪹꪄ꫁ꪱ ꪋ꫁ꪱꪙ – thóc lười) của dân hàng châu, cứ mỗi mẫu ruộng dân làm phải nộp một tạ thóc. Ngoài ra, án nha được hưởng 9 bản cuông (ꪚ꫁ꪱꪙ ꪀꪺꪉ) người Thái là bản Bó, bản Lái, bản Nghịu, bản Tong, bản Viên, bản Bay, bản Nuốt, bản Cát, bản É Tong và 7 bản cuông người Xá là bản Pong, bản Có, bản Liu, bản Tịm, bản Nà Tăm, bản Kéo, bản Nong Pông.
  2. Thư lại ăn 6 mẫu ruộng nằm trong bản Chiềng Đi và được hưởng 3 bản cuông người Thái là bản Chiềng Ngàm, bản Bon Nọi, bản Ca Đắng và hai bản cuông Xá là bản Khem, bản Lanh.
  3. Thông lại ăn 5 mẫu ruộng nàm trong bản Chiềng Đi và được hưởng 3 bản cuông Thái là bản Xát, bản Ta Tú và 3 bản cuông người Xá là bản Hỏm, bản Mau, bản Xong.
  4. Phìa lý (ꪟꪸ ꪨꪲ꪿) ăn 5 mẫu ruộng nằm trong bản Chiềng Đi và được hưởng 3 bản cuông người Thái là bản Nà Tí, bản Pủ, bản Nà Hạt và 2 bản cuông người Xá là bản Xai, bản Nà Heo.
  5. Phìa phó (ꪟꪸ ꪠꪴ꪿) ăn 3 mẫu ruộng nằm trong bản Chiềng Đi và được hưởng 2 bản cuông Thái là bản Đảy (Lảy), bản Nong và 2 bản cuông Xá là bản Nà Hán, bản Huổi Luông.

1.2 Việc sắp xếp các kỳ mục, chức dịch hàng mường

  1. Ông xen (ꪶꪮꪉ ꪵꪎꪙ) trông coi xổng pằn, ở bản Mòn ăn 8 mẫu ruộng và được hưởng 5 bản cuông Thái là bản Dói, bản Pai, bản Xanh, bản Nặm Lậu, bản Xe.
  2. Ông pọng (ꪶꪮꪉ ꪝ꫁ꪮꪉ) trông coi xổng pọng, ở bản Thôm, ăn 6 mẫu ruộng và được hưởng 4 bản cuông Thái là bản Phé, bản Nà Ít, bản Tam, bản Luôi. 
  3. Ông ho luông (ꪶꪮꪉ ꪬꪷ ꪨꪺꪉ) trông coi xổng ho luông ở bản Lụa, ăn 4 mẫu ruộng và được hưởng 4 bản cuông Xá là bản Dẹ, bản Bó Mạ. 
  4. Ông pọng cang (ꪶꪮꪉ ꪝ꫁ꪮꪉ ꪀꪱꪉ) trông coi xổng pọng cang, ở bản Cọ, ăn 4 mẫu ruộng và được hưởng một bản cuông người Thái là bản Xen To.
  5. Ông quan xự (ꪶꪮꪉ ꪀꪫꪱꪙ ꪏꪳ꫁) hay ho cang ở bản Lé, ăn 2 mẫu ruộng, làm việc trong xổng pọng cang.
  6. Ông ho hé (ꪶꪮꪉ ꪬꪷ ꪵꪬ꪿) ở bản Dăng Luông, ăn hai mẫu ruộng và làm việ cho xổng pằn.
  7. Ông pụa (ꪶꪮꪉ ꪝꪺꪀ) ở bản Púng, ăn hai mẫu ruộng, làm việc ở xổng pọng.
  8. Ông chán hương (ꪊ꪿ꪱ ꪹꪭꪙ) ở bản Lạnh, ăn hai mẫu ruộng, làm việc cho xổng ho luông và được vào hàng tứ xên cùng ông mo.

1.3 Quy định công việc của các ông trông nom các xổng

  1. Khi phìa sức nộp thuế, ông xổng phải sức cho các quan bản trong xổng nộp đầy đủ. Thuế thu về nhà ông xổng rồi đưa về nộp phìa. 
  2. Khi phìa sức nộp phu, phiên ở xổng mình, ông xổng phải sức cho các quan bản nộp đầy đủ phu, phiên tập trung ở nhà ông xổng rồi dẫn lên.
  3. Khi án nha, phìa cần bàn việc gì, gọi các ông xổng lên thì các ông xổng phải lên chầu.
  4. Khi án nha, phìa nghi ngờ, phát giác điều gì, ở chỗ nào, án nha sai đánh 9 tiếng trống, thì bất cứ là ngày hay đêm, các ổng xổng phải lên chầu. Khi án nha, phìa cần đi xem xét việc gì thuộc xổng nào thì ông xổng ở đó phải lên chầu. Khi án nha, phìa cần dùng bao nhiêu quan bách, quan phòng thì ông xổng phải sức bảo đến cho đủ mặt.
  5. Khi nào dân trong xổng kêu ca việc ruộng, nương đất đai cai quản, các ông xổng phải trực tiếp đi điều tra. 

1.4 Quy định công việc các ông quan bách.

Mỗi xổng lại có một ông quan bách chuyên coi việc cần đánh đập, bắt trói, tù tội, cầm giam. Bốn quan bách là:

  1. Quan bản Nga thuộc xổng pằn, ăn 1,5 mẫu ruộng.
  2. Quan bản Cha thuộc xổng pọng, ăn 1,5 mẫu ruộng.
  3. quan bản Thẳm thuộc xổng ho luông, ăn 1,5 mẫu ruộng.
  4. Quan bản Táng thuộc xổng pọng cang, ăn 1,5 mẫu ruộng.

Bốn quan bách trên được gọi là quan bách trưởng (ꪵꪚ꪿ꪀ ꪶꪀ꪿ꪀ – bách cốc) có 4 quan ti bách giúp việc. Nhiệm vụ của quan ti bách là ở nhà trông nom nhà cửa cho các quan bách trưởng phải thường xuyên ở trên mường. Mỗi quan ti bách được ăn 1 mẫu ruộng.

1.5 Quy định về công việc của quan phòng

Mỗi xổng lại có 2 ông quan phòng trong đó có một quan phòng trưởng chuyên giúp việc khi án nha, phìa đi xa (đi xuống nhà vua, đi lên tỉnh, đi sang châu trên, châu dưới). Quan phòng đi theo hầu trông nom gồng gánh, của cải, tiền nong, quan phòng phải ghi chép đầy đủ khi về bổ vào đầu dân bắt nộp.
Tám ông quan phòng là: quản bản Cóng, bản Bỉa thuộc xổng pằn; quan bản Nà, bản Pùa thuộc xổng pọng; quan bản Pẹn, bản Cuông Mường thuộc xổng ho luông; quan bản Vài, bản Láo thuộc xổng pọng cang. 
Mỗi ông quan phòng sẽ được hưởng một mẫu ruộng.

1.6 Quy định về công việc của quan chiềng

Mỗi xổng lại có hai quan chiềng chuyên coi việc dưới đây:

  1. Khi nào chức dịch làm nhà phải đến trông coi bảo dân làm.
  2. Khi nào làm nương, phai tại xổng mình phải đến trông coi đôn đốc dân làm.
  3. Khi nào thu khẩu chạn, khẩu kho phải đến trông coi, cân, ghi chép lại tại nhà ông xổng. 
  4. Khi nào cần cúng tế toàn mường, phải đến nhà ông mo và ông xổng lĩnh tiền công để đi mua trâu, bò, lợn, chó, vịt, gà và các thứ cần dùng.
  5. Khi nào có tiệc tùng, phải đi mời án nha, phìa châu trên, phìa châu dưới.
  6. Khi án nha, phìa lấy vợ ở mường khác, phải trông nom rượu, trâu, lợn, gà, cơm nước và các thứ cần thiết cho đúng phong tục.
  7. Khi nào vua, quan, án nha mường khác đến, khi mổ trâu đãi khách, phải đến chúc mừng, xem xét rượu, thịt.
  8. Khi các mường khác có việc hiếu hỉ phải đi theo án nha, phìa hay các hàng chức dịch hoặc tự bản thân đi đến lo việc.
  9. Được trong hàng tứ xên theo ông mo.

Xem thêm: Một số chức dịch trong xã hội Thái xưa.

Tám ông quan chiềng này không được đi ở các bản khác, phải ở trong bản của các ông kỳ mục hàng xổng.
Tám ông quan chiềng là:

  1. Ông pằn chiềng thuộc xổng pằn, ở bản Mòn, ăn một mẫu ruộng, được đứng vào hàng tứ xên.
  2. Ông pọng chiềng thuộc xổng pọng, ở bản Thòm, ăn một mẫu ruộng, được đứng vào hàng tứ xên.
  3. Ông ho luông chiềng thuộc xổng ho luông, ở bản Lụa, ăn một mẫu ruộng, không được đứng vào hàng tứ xên, nhưng các đồ cúng lễ phải hỏi ông này. 
  4. Ông pọng cang chiềng ở bản Cọ và ông ho cang chiềng ở bản Lé thuộc xổng pọng cang, mỗi ông được ăn 0,5 mẫu ruộng, được đứng vào hàng tứ xên.
  5. Ông ho hé chiềng ở bản Đăng Luông thuộc xổng pằn, ăn 0,5 mẫu ruộng, được đứng vào hàng tứ xên.
  6. Ông pụa chiềng ở bản Đăng Luông thuộc  xổng pọng, ăn 0,5 mẫu ruộng, không được đứng vào hàng tứ xên nhưng khi cúng lễ phải đến phục dịch. 
  7. Ông chá hươn chiềng ở bản lạnh thuộc xổng ho luông, ăn 0,5 mẫu ruộng, không được đứng vào hàng tứ xên nhưng khi cúng lễ phải đến phục dịch. 

1.7 Quy định về công việc của các ông chá

Mỗi xổng lại có ông chá trông nom nhưn việc dưới đây:

  1. Khi cúng tế việc của mường, phải chia nhau đến các bản Thái, Xá, Mèo trong phạm vị mường thu tiền đóng góp từng nhà, nộp cho các ông xổng.
  2. Khi có khách lớn đến thăm mường phải chia nhau đi thu rượu, gạo, vịt, gà của dân trong xổng tập trung ở nhà ông xổng để đãi khách.
  3. Khi có khác đến nhà ông xổng, chá xổng phải đến phục dịch, làm cơm và chỉ phục dịch ở nhà ông xổng thuộc xổng mình thôi.

Tám ông chá là: ông chá thuộc xổng pằn ở bản Mòn và bản Đăng Luông; chá thuộc xổng pọng ở bản Thòm và bản Púng; chá thuộc xổng ho luông ở bản Nà Lục và Nà Lạnh; chá thuộc xổng pọng cang ở bản Cọ và bản Lé. Tám ông chá này đều được hưởng 0,5 mẫu ruộng, trong đó, 4 ông chá xổng pọng và pọng cang là được đứng vào hàng tứ xên, 4 ông còn lại thì không được đứng vào hàng tứ xên.

1.8 Quy định về công việc của quan đầu bản.

Mỗi bản có quan đầu bản trông coi, có quan bách, quan phòng ở trên xuống phối hợp giải quyết công việc hàng bản. Quan đầu bản trông nom những việc dưới đây:

  1. Khi nghi ngờ có việc gì, cần phải phát giác phải sai cấm phòng mờ cửa binh, ra các tờ khoản, phải đi chầu, đi báo cho ông xổng.
  2. Khi có sức thu thuế, thu tiền, thu vải, thu thóc lúa v.v.. hoặc sức bắt phu, bắt phiên, phục dịch các khoản, phải dốc dân nộp cho đầy đủ. Nếu bản nào thiếu thuế má, phu, phiên hoặc kiếm cớ chậm trễ thì phải mất tiền ca tin (ꪁ꪿ꪱ ꪔꪲꪙ – tiền công đi) cho quan sai là 3,6 lạng bạc. 

Các quan đầu bản thường lấy ở hàng chức dịch ra làm. Ruộng cấp  cho các quan đầu bản tùy theo bản to, bản nhỏ mà cấp nhiều hay ít. Thường nếu bản nào có 1 mẫu thì bớt ra hai sào để cấp.
Ví dụ: bản có 7, 8 mẫu ruộng thì bớt ra để cấp 1,4 đến 1,6 mẫu; bản có 3, 4 mẫu ruộng thì bớt ra để cấp 6 – 8 sào.
Số ruộng còn lại để chia cho dân hàng mường gánh vác. Trong mường, trừ các bản có các ông kỳ mục ở, chọn ra 4 bản lớn nhất cho các quan bách trưởng là quan đầu bản. Bản nhỏ hơn phân cho các quan ti bách, quan phòng,  làm quan đầu bản, bản nhỏ nữa phân cho các quan ti phòng…, và những người không trong hàng chức dịch hàng mường làm quan đầu bản. 

Ngoài 4 xổng gần mường, Mường Muổi còn có 5 lộng là Mường É, Mường Bám, Bản Pạn, Mường Pịn (hay bản Pịn) và Chiềng La. 5 lộng này có tạo lộng đứng đầu, trông nom các khoản trong phạm vi lộng mình. Mỗi lộng cũng có các kỳ mục giúp việc cho tạo, có mo, chang trông nom việc cúng tế. Mỗi lộng lại có một số quén và quan bản đứng đầu. 

Khi án nha có sức lấy phu, phiên, tiền, lương thực gì nếu tính là 100 thì 5 mường thuộc toàn châu, kể cả mường trong ( tức Mường Muổi – ND) lẫn mường ngoài (tức 4 mường khác – ND) mỗi mường phải phân theo tỷ lệ sau: Mường Muổi 30; Mường Lầm 20; Mường Sại 20; Mường Piềng 17 và Chiềng Pấc 13. Các phìa 5 mường đó phải lo đầy đủ nộp án nha.

Riềng phìa Mường Muổi lại sức phân cho các xổng, lộng như sau: bốn xổng mỗi xổng chịu 4,5 phần; lộng Mường É chịu 4 phần. Còn 4 lộng khác mỗi lộng chịu hai phần.

Xem thêm: Một số chức dịch trong xã hội Thái xưa.

Theo Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái, x

Nhà xuất bản Khoa học và Xã hội.

Comments

comments

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.