Tục lệ người Thái Đen ở Thuận Châu – Khoản thứ 3, 4, 5

Khoản 3, 4, 5 tục lệ người Thái Đen ở Thuận Châu quy định về việc kiện cáo, phạt vạ; dân làm nhà, ruộng, nương cho án nha và các chức dịch; bắn súng trúng người và làm cháy nhà.

Tục lệ người Thái Đen ở Thuận Châu

Khoản thứ ba

Về việc kiện cáo, phạt vạ quy định như sau:

Án nha được phép phạt từ 1,2 đến 12 nén bạc, thư lại được phép phạt từ 1,2 đến 6 nén bạc; thông lại, phìa lý, phìa phó được phép phạt từ 3,6 lạng bạc đến 3,6 nén bạc, kỳ mục, ông xen được phạt từ 1,2 đến 9,9 lạng bạc; ông pọng, từ 1,2 đến 8,8 lạng bạc; ông ho luông từ 1,2 đến 7,7 lạng bạc; từ ông pọng cang đến 8 ông quan bách, 8 ông quan phòng được phép phạt từ 7 đồng cân bạc đến 6,6 lạng bạc, các quan đầu bản. các quan chiềng, quan chá, từ 5 đồng cân bạc đến 4,4 lạng bạc.

Tùy theo từng việc, từng khoản làm phạm sai trái (phít) to hay nhỏ, các cơ quan định mức phạt hoặc làm vạ (máư). Khi dân có điều gì kêu ca, kiện cáo, quan bản được quyền xét xử trước. Lệ tiền hầu kiên bản có 3 mức. 1 cân rượu kèm theo gà và 5 đồng cân bạc; 2 cân rượu kèm theo vịt và 5 đồng cân bạc và 4 cân rượu kèm theo lợn và 1 lạng bạc. 
Nếu hai bên chưa vừa lòng với cách xét xử ở bản, thì được phép kiện lên quan phổng (quan một vùng). Lệ tiền hầu kiện chỉ có hai mức: rượu, vịt và rượu, lợn kèm theo số tiền định theo từng mức.
Nếu việc kiện cáo chưa xong, hai bên phải đưa lên cho các ông xam quan (tức ba ông kỳ mục to nhất) xét xử. Ông pọng xét không xong, phải đưa lên ông xen, nếu xam quan xét không xong thì phải đưa việc kiện tiếp lên ông phìa, tới quan luông án nha. 

Trong trường hợp, án nha hay các cấp cao xét xử cũng như cấp dưới, thì người sai trái (côn phít) phải rửa quản (lạng quản) cho tất cả các nơi mà người đó đến kiện. Nếu kiện đến cấp nào đó mà việc coi là xong, thì chỉ phải rửa quản đến cấp đó thôi. 
Mức rửa quản quy định như sau: quản án nha 1,2 nén bạc; quản phìa 6 lạng bạc; quản ông xen 4 lạng bạc, quản ông pọng 2,5 lạng bạc; quản ông ho luông 1,5 lạng bạc.

Mức hầu kiện của hai bên: người đúng cũng như người sai (phủ men, phủ phít) cũng chỉ quy định có ba mức: rượu gà, rượu vịt hay rượu lợn kèm theo số tiền đã định ghi ở trên.

Còn nếu người nào kiện người khác phạm những tội lớn như giết người, có ma cà rồng,v.v.. mà thực ra không có, cả ba họ người vu cáo sẽ bị vạ. Những người bị gọi đến phạt vạ là nhằm vào những người chức dịch cùng ải nọng, lúng ta và nhính sao của người bị kiện. Mức phạt cho án nha, phìa, bốn ông, ông mo và dân được chức quảng là 3,6 nén bạc; cho quan bản 2,4 lạng, cho dân thường (po ké me ha) 1,5 lạng bạc. Nếu người đó là con của ai thì theo chức bố mà phạt.

Khi nào bản, mường có tiệc tùng mời án nha hoặc phìa hay án nha, phìa xét xử, hay đi thăm viếng nơi nào, thì nơi ấy phải mổ lợn, làm ban thờ cho lạn căm (1), phải biếu đầu lợn và hai đùi mang tận đến nhà án nha hay phìa. Nếu án nha đi đường xa, phải cấp rượu, thịt cho án nha nữa.

Khoản thứ tư

Về việc dân làm nhà, làm ruộng, làm nương cho án nha và các chức dịch quy định như sau:

Dân hàng châu phải làm nhà cho án nha, thư lại, thông lại, các thầy giáo (2). Dân hàng mường phải làm nhà cho phìa lý, phìa phó mường sở tại. Dân hàng bản phải làm nhà cho các quan kỳ mục, quan đầu bản sở tại.

Dân bốn xổng ai hưởng ruộng gánh vác phải lấy trâu về cày, bừa cho thửa ruộng Nà Xạ, Nà Lạn của án nha mỗi nhà một buổi. Nếu cày, bừa chưa xong, cuông nhốc sẽ làm tiếp. Dân hưởng ruộng gánh vác tùy theo bản to hay nhỏ. Cứ bản nào có 10 mẫu phải làm cho các ông quan, tạo lộng, quan bản 1 mẫu; cứ bản nào có 3 -4 mẫu, phải làm 3 – sào. Dân phải làm từ việc cắm mai, đóng cày (pắc lủa, lam thay) cho đến khi đưa thóc vào bịch mới thôi. Ngoài ra, dân dân còn phải làm nương bông đáng 3 -5 sào đất, làm vườn rau (ꪎꪺꪙ ꪠꪰꪀ ꪬꪮꪣ) đáng 2 – sào đất, dân làm cho các quan, tạo lộng, quan bản là đề phòng tiếp khách, cúng lễ trong bản. Trong các trường hợp này, quan bản không được bắt dân nộp rượu, thóc nữa. Dân còn phải đưa thóc lên kho của mường để tiếp khách hoặc khi dân có việc đến mường thì lấy đó mà dùng (3). Do nhiệm vụ của dân đối với quan bản, nên quan bản phải chia ruộng công cho dân, có bao nhiêu chia bấy nhiêu. Ngược lại, dân phải trông nom, chầu trực các khoản. làm đầy tớ theo hầu (ꪚ꪿ꪱꪫ ꪵꪜꪫ), phải “ăn đợi, mổ hỏi, trái giúp cởi, thắng giúp bắt bạ” (ꪀꪲꪙ ꪖ꫁ꪱ, ꪄ꫁ꪱ ꪖꪱꪣ, ꪠꪲꪒ ꪋ꪿ꪮꪥ ꪵꪀ꫁, ꪵꪝ꫁ ꪋ꪿ꪮꪥ ꪻꪢ꪿) (4). Dân muốn đi đâu phải xin phép, quan có cho đi mới được đi: dân muốn làm gì, quan có cho làm mới làm. Dân phải luôn theo phép tắc và tuân theo các điều khoản ghi trên.

Khoản thứ năm

Về việc bắn súng nhầm bị thương hay chết người và việc làm cháy nhà, quy định như sau:

Ai bắn nhầm khi đi săn làm chết người, phải lập tức trình án nha. Án nha, phìa phải thân đến khám, hỏi kỹ cả hai bên xem có thù hằn gì nhau không. Nếu không có thù hằn, thì mọi người bắn nhầm cất một co heo (ꪀꪷ ꪵꪭ꪿ꪫ) có 20 xau lỉu (cột cắm cờ quanh co heo), 1 con trâu, tiền ngân lông nặm, lống phay (tiền xuống nước, xuống lửa) là ba lạng bạc, tiền ngân păn nặm ta (tiền cản nước mắt) của người ruột thịt của người chết là 1,2 nén bạc. Nếu có thù hằn nhau, người phải cất co heo mất trâu và các số tiền như trên. Ngoài ra, còn phải bồi thường tiền cá hua cho thân nhân người bị giết là 12 nén bạc.

Nếu ai để cháy nhà, lan sang nhà người khác, thì án nha, bản mường bắt phạt 3,6 nén bạc, hai con trâu, một con để tế lễ đuổi tinh lửa (ꪹꪎꪸꪙ ꪶꪎ꪿ꪉ ꪹꪎꪸꪙ ꪼꪡ). Án nha và phìa được hưởng 1,2 nén bạc, bản mường được hưởng 1,2 nén bạc. Các chủ nhà bị nhà cháy được hưởng 1,2 nén bạc và được đền nồi gạo ngâm (ꪜꪰꪉ ꪢꪷ꫁ ꪹꪄ꫁ꪱ ꪢ꪿ꪱ). Còn thịt trâu mổ ra ăn chung và nộp theo lệ đã định.

Ghi chú

  1. Lạn căm (ꪩ꫁ꪱꪙ ꪁꪾ): Các chúa đất đã khuất có giữ chức đầu mường lớn một thời gian được ghi trong các sách cúng tế của mường để được mời về dự các buổi cúng tế hàng mường cùng với tinh thần tâm linh, ma quỷ. Trong miếu vạn thần, lạn căm được xếp sau hàng các Then trên trời.
  2. Theo lệ cổ truyền, dân hàng mường chỉ phải làm nhà cho án nha thôi. Việc làm nhà cũng như lệ na ná hay háng mương cụ thể ở Thuận Châu là cày, bừa cho thửa ruộng Nà Xạ, Nà Lạn là nhằm khẳng định quyền làm chúa đối với dân toàn mường. Nhưng ở đây quy định dân phải làm nhà cho cả thư lại, thông lại, thầy giáo là sự lạm dụng mà thôi.
  3. Thực tế, dân có việc đến nhà quan hay đến mường không bao giờ được dùng số thóc đó và ngược lại còn phải biếu xén quan là khác.
  4. Câu tục ngữ này ý nói dân chịu hầu hạ, nộp tô, biếu xén cho chúa theo lệ bản mường quy định, thời được giúp chúa giúp đỡ khi phải tội hay kiện cáo. Nếu được kiện, chúa giúp phạt vạ người thua kiện. 
Facebook Comments

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.