Những đặc trưng cơ bản của người Thái Việt Nam

Người Thái có ý niệm thống nhất về những người đồng tộc mình với cái tên tự gọi là Tāy (Chữ Thái: ꪼꪕ; IPA: [taj⁵⁵]). Ngôn ngữ Thái hiện nay thuộc ngữ hệ Tai-Kadai. Những dân tộc cùng ngữ hệ này ở Việt Nam có các nhóm: Lào, Lự, Tày, Nùng, Giáy…

Lời tựa (Admin)

1. Người Thái có một ngôn ngữ thống nhất

Khi so sánh giữa ngôn ngữ Thái với ngôn ngữ các nhóm Tày, Nùng, Lào, Lự, Giáy, Pu Nà,…, có thể kết luận đó là những ngôn ngữ chung cội nguồn.
Ngôn ngữ Thái, nhất là Thái cổ, có ảnh hưởng rất quan trọng trong việc hình thành ngôn ngữ Việt cổ. Ngôn ngữ này có đặc trưng cơ bản: tiếng nói đơn âm, có thanh điệu (độ cao thấp của từ có phân biệt ý nghĩa) và cấu tạo theo thứ tự: “chủ ngữ – vị ngữ – các thành phần khác”. Trừ những câu thuộc mệnh lệnh thức, còn có ít trường hợp ngược thứ tự này.
Sở giáo dục Khu tự trị Tây Bắc trong những năm 1956 – 1964 khi tiến hành cải tiến chữ đã đi đến một nhận định rằng: tiếng Thái Tây Bắc là một phương ngôn của ngôn ngữ Thái. Mặc dù có nhiều vùng thổ ngữ nhưng nó là một phương ngôn, nên cơ bản là thống nhất. Nhờ sự thống nhất đó, đồng bào đã dùng phương ngôn này để biểu thị tư duy và trao đổi với nhau rất rộng rãi, từ vùng hữu ngạn sông Hồng đến miền lưu vực sông Mã, từ Mộc Châu đến vùng Phong Thổ…

Văn tự Thái bắt nguồn từ bộ chữ Phạn.
Quam Tô Mương của Mường Lò đã ghi nhận là từ khi Tạo Xuông, Tạo Ngần làm chủ đất Mường Ôm, Mường Ai ở miền thượng sông Hồng thì người Thái đã có chữ để ghi chép các tập tục, lễ nghi tôn giáo. Như vậy có thể cho rằng trước thể kỷ XI – XII, lúc ngành người Thái Đen chưa thiên di xuống miền Tây Bắc thì chữ này đã được dùng trong các cư dân cổ của họ.
Đến thể kỷ XIII – XIV đời Lò Lẹt làm chủ đất Mường Muổi (Thuận Châu), chữ Thái đã được phổ biển rộng rãi hơn trong các bản mường.
Đặc điểm cấu tạo chữ Thái rất thống nhất. Đó là loại chữ ghép vần chứ không phải theo hệ thống tượng hình như kiểu chữ Hán. Bởi vậy nó có hệ thống phụ âm và nguyển âm để ghi chép lại thành tiếng. […]
Ngôn ngữ là một đặc trưng để phân biệt giữa tộc người này với tộc người khác. Người Thái nhờ có ngôn ngữ mà hợp thành một nhóm tộc người. Và cũng nhờ ngôn ngữ mà họ đã có phương tiện để phát triển: tư duy, kinh tế, văn hóa, xã hội. Ngày nay ngôn ngữ Thái đang được khuyến khích phát triển. Văn tự Thái đang được nghiên cứu phiên âm cùng hệ với chữ Quốc ngữ.

2. Người Thái có chung tâm lý biểu hiện về các mặt vật chất và tinh thần thống nhất.

Họ cạnh tác trên các thửa ruộng nước trong các thung lũng lòng chảo miền núi Tây Bắc, với việc làm thủy lợi nhỏ và sử dụng các công cụ cày bừa… tương đối thành thạo. Họ có tập quán trồn lúa nếp và dùng lúa nếp làm lương thực chủ yếu.

2.1 Nhà ở

Đồng bào ở nhà sàn; tục ngữ có câu: ꪹꪭꪙ ꪼꪕ ꪣꪲ ꪭ꫁ꪱꪙ ꪀ꫁ꪫꪱꪙ ꪣꪲ ꪹꪎꪱ (hư̄ơn Tāy mỉ hạn, kwản mī sàu – Nhà người Thái có gác, bên sàn có cột). Nhà của họ đại thể có thể chia làm hai loại. Nhà sàn có hai chái đầu hổi, cấu trúc hình tròn khum tựa mai rùa, gọi là hư̄ơn tụp cống (ꪹꪭꪙ ꪕꪴꪚ ꪶꪀ꪿ꪉ – nhà mái cong) phân bố ở vùng Thái Đen và Thái Trắng Mộc Châu. Nhà sàn máu hồi hình gần vuông hay chữ nhật, gọi là hư̄ơn tụp lặt (ꪹꪭꪙ ꪕꪴꪚ ꪩꪰꪒ). Phân bố ở vùng Thái Trắng miền Bắc.

2.2. Y Phục

Nữ giới mặc váy đen vào áo ngắn xẻ ngực. Loại áo này gọi là xửa cỏm (ꪹꪎ꫁ ꪀ꫁ꪮꪣ), có đính cúc nhỏ hình cầu, hoặc cúc bạc hình con bướm, nhện, ve sầu, hoa,… Trời rét hoặc ngày lễ thì mặc áo dài đen, xẻ bên nách, hoặc chui đầu kiểu “poncho” gọi là xửa chai hay xửa luông (áo lớn – đại lễ). Nữ giới còn cuốn khăn. Thái Trắng quấn khăn tráng, Thái Đen quấn khăn đen. Khăn của nữ giới Thái Đen được gọi là piêu, có thêu nhiều màu sắc với những hình cây guột hay kỷ hà trông rất hài hòa, đẹp mắt.

Nam giới xưa mặc quần trắng hoặc đen, không có túi, không dải rút mà dùng thắt lưng. Mặc áo ngắn xẻ ngực gọi là xửa tọng té (áo mở ngực). Màu sắc thường có ba loại: đen, hoa văn kẻ hoặc màu gạch non. Cúc áo làm bằng đồng hoặc tết bằng dây vải, có hai túi ở dưới vạt đằng trước, cần thiết có thể thêm một túi ngực trái. Mùa rét hoặc ngày lễ thì mặc áo dài đen có mặc lót áo dài trắng ở bên trong. Loại áo này thường xẻ bền nách và gọi cách ăn mặc này là ”lối mặc áo đen đè áo trắng”(xửa đằm tặp xửa đón – ꪹꪎ꫁ ꪒꪾ ꪕꪾꪚ ꪹꪎ꫁ ꪒ꪿ꪮꪙ). Ngày thường nam giới cũng cuốn khăn trắng (Thái Trắng) hoặc khăn đen (Thái Đen).

Ngày lễ, cả hai ngành Thái đều quấn khăn đen dài hàng sải tay, gọi là “quấn khăn cuộn” (pẳn khằn páu – ꪜ꫁ꪽ ꪄꪽ ꪹꪜ꪿ꪱ).
Họ có một tâm lý thống nhất: càn cù, dũng cảm trong lao động và đấu tranh. Tâm lý này đã biểu hiện trong sự đúc kết trong câu tục ngữ: “Yêu người khỏe, mến người chăm làm” (hặc phủ hānh, pānh phủ dượn – ꪭꪰꪀ ꪠꪴ꫁ ꪵꪭꪉ ꪵꪝꪉ ꪠꪴ꫁ ꪹꪥ꫁ꪙ), Mường có giặc thì ưa người gan dạ (Mương xấc pēng cô̄n hàn ꪹꪣꪉ ꪹꪎꪷ꪿ꪀ ꪵꪝꪉ ꫛ ꪬꪱꪙ). Tính tình họ thật thà, chất phác, giản dị, nhiều nhưng nói ít. Nó được biểu hiện thành tục ngữ: “lòng thẳng như nước trong”” (nặm sàư chàư sư), chăm làm cố sức làm tới, chứ không nên lắm lời (xắc dệt mắn dượn, báu pák đảy quām lài). Họ ưa thích tính từ tốn chứ không hay dữ dội, nôn nóng. Một câu tục ngữ khá nổi tiếng thường dùng là: Từ từ làm nhỏ đến lớn nó mới tỏa đuôi voi (coi dệt nọi mư̄a sú luồng mă̄n há puồng hàng chạng). Làm tới đâu hay tới đó chứ không làm thật nhiều, rút cục chẳng được gì, đúng như câu: Mười đi trước không bằng năm đã ở trong tay (síp pày nả báu to hả mā mư̄). Thích tự do phóng khoáng, ít tính toán trong sinh hoạt. Rất mến khách, nên thường có tính rộng lượng, cả tin. Sinh hoạt gia đình đầm ấm, vợ chồng ít có trường hợp cãi cọ mắng chửi nhau hoặc cha mẹ cũng ít mắng chửi con cái. Đàn ông thì xốc vác, chăm chỉ, ưa uống rượu và thường dùng rượu để thổ lội tâm tình. Đàn bà thì trung hậu, đảm đang, thường chồng con…
Tình cảm của những người đồng tộc được thể hiện rõ rệt. Nó được biểu hiện trong các tập tục, sinh hoạt gắn bó của người trong bản, trong mường. Về tâm lý này có thể thấy rõ trong đoạn ca dao:
“Tuy ở khác bản, nhưng chung mường
Ở khác phương nhưng chung vùng
Ở mỗi người một khe suối, nhưng có chung một vận mệnh”
Nguyên văn tiếng Thái:
ꪤꪴ꪿ ꪔ꪿ꪱꪉ ꪚ꫁ꪱꪙ ꪬꪱꪀ ꪭ꪿ꪺꪣ ꪹꪠꪉ
ꪤꪴ꪿ ꪔ꪿ꪱꪉ ꪹꪣꪉ ꪬꪱꪀ ꪭ꪿ꪺꪣ ꪶꪠ꫁ꪉ
ꪤꪴ꪿ ꫛ ꪬ꫁ꪺꪥ ꪙꪾ꫁ ꪶꪁ꫁ꪉ ꪬꪱꪀ ꪭ꪿ꪺꪙ ꪵꪙꪙ ꪒꪸꪫ
Sự thống nhất về mặt văn hóa, tinh thaafnh của họ còn biểu hiện trên cách nhìn và giải thích thể giới. Mặt này thường biểu hiện trong các mô típ thần thoại và truyền thuyết về thiên nhiên, địa vực cư trú và nguồn gốc lịch sử của dân tộc mình. Mặt khác còn thể hiện trong các mô típ văn hóa dân gian (folklore) chung nhưng âm nhạc, nghệ thuật, văn học,…, các tập tục về tôn giáo (Xem phần thứ năm).

3. Người Thái có chung một loại hình cơ cấu kinh tế và xã hội cổ truyền.

Đó là loại hình tổ chức xã hội theo chế độ phìa tạo. Xã hội đó phân chia địa hạt hành chính thành từng châu mường. Mỗi một châu mường (tương đương như một huyện hiện nay) đã hình thành một bộ máy thống trị, bóc lột của một dòng quý tộc thể tập. Một thể chế xã hội đều dựa trên sự phân bố ruộng đất một cách trực tiếp. Đất được mang danh nghĩa của toàn mường (công thổ) và ruộng cũng mang tên là ruộng toàn mường (nā mươ̄ng) – một loại công điền. Mọi người đều có quyền sử dụng ruộng đất, nhưng phải chiujlafm việc mường – một loại việc công ích. Song mọi khoản việc mường đều do bộ máy thống trị phìa tạo. Do đó, phìa tạo đã lợi dụng được “đòn bẩy” này để thống trị và bóc lột toàn dân trong mường. (Xem phần thứ 3, thứ 4).

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại (7-5-1954), cùng với chủ nghĩa thực dân Pháp, chế độ phìa tạo đã sụp đổ hoàn toàn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, xã hội họ đã cùng cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa.
Nhìn chung các thành phần dân tộc Việt Nam thường có bốn đặc trưng cơ bản đã nêu ở trên. Căn cứ vào nội dung cụ thể của nó thì đây lại là sự thể hiện tập trung nhất những cái có thể gọi là người Thái ở Tây Bắc. Có được nội dung bốn đặc trưng cơ bản đó, họ có thể phân biệt được mình với các dân tộc anh em. Và ngược lại, nhìn vào nội dung của bốn đặc trưng cơ bản này, các dân tộc anh em có thể nhìn ra ngay đó là người Thái ở Tây Bắc. Chẳng những thế, nội dung của bốn đặc trưng cơ bản này có thể phân biệt người Thái ở Tây Bắc với người Thái ở nơi khác. Bởi vậy nó là những điều chung nhất đối với họ; đồng thời nó cũng có những điều riêng chỉ có ở họ. Có thể cùng là người Thái thuộc thành phần dân tộc Việt Nam, nhưng địa vực cư trú lại khác nhau. Có thể xưa cũng gọi là chế độ phìa tạo, nhưng chế độ phìa tạo ở người Thái Tây Bắc lại cấu trúc trên quan hệ ruộng đất vẫn được luật mường thừa nhận là của công cộng (ruộng toàn mường); trên cơ sở ruộng toàn mường đó, […] phìa tạo đã thực hiện bóc lột dối với tầng lớp nông dân lao động.

Trích Mục I – Những đặc trực cơ bản
Phần thứ nhất Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam (1977) – Cầm Trọng

Facebook Comments

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.